logo
Men for what watch? Watch, watch and call. A tool that is used for timing on breitling replica the wrist. Men wear watches what kind, starting from the basic color and size, have their own right watches, you can follow the watch's color, shape, value, occasions to carefully match their own clothing. For the choice of rolex replica a watch, the first to look at and their identity are consistent with a rural old people wear watches, a bit unrealistic, even if there is, it would have been too ostentatious. A Multi Millionaire owner, wearing a few hundred dollars of high imitation table also lost their identity, and even make friends on their own business is not good. In the formal social occasions, watches are often regarded as jewelry, for usually only ring a jewelry can be worn by rolex replica uk men is respected. Some people even stressed that: "the watch is not only a man's jewelry, but also men's most important jewelry." In western countries, watches, pens, lighters was once known as adult men "three treasures", is every man even for a moment can not be away from the body.

Chào mừng các bạn! Mong bạn Đăng nhập. Xin lỗi bạn, tạm dừng việc đăng ký mới.►Nhấn hình ảnh nhỏ sẽ hiện ảnh lớn ‹(•¿•)›

Thông báo

Icon
Error

Tùy chọn
Xem bài viết cuối Go to first unread
song  
#1 Đã gửi : 27/11/2018 lúc 07:32:22(UTC)
song

Danh hiệu: Moderate

Nhóm: Registered
Gia nhập: 21-02-2012(UTC)
Bài viết: 13,131

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 2 lần trong 2 bài viết
Các nguyên nhân làm cao huyết áp

Bệnh cao huyết áp, còn gọi nôm na là “bệnh cao máu,” là tình trạng áp suất máu tăng cao thường xuyên và kinh niên, và còn là một bệnh xảy ra nhiều nhất. Bệnh cao huyết áp thường không có triệu chứng gì rõ ràng cả và ít khi được phát hiện sớm. Bệnh này là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến trụy tim, tai biến não, suy thận, và nhiều bệnh trầm kha khác.

Triệu chứng
Đa số bệnh nhân chỉ biểu hiện triệu chứng khi mà tình trạng bệnh đã khá nặng và đang dẫn đến những hư hại đáng ngại. Trong nhiều trường hợp, dấu hiệu đầu tiên của bệnh cao huyết áp là bị trụy tim hay tai biến não đột ngột, vì thế bệnh còn có tên là “kẻ giết người thầm lặng.”
Bệnh cao máu được phân loại thành hai thời kỳ tùy theo áp suất máu:
Thời kỳ 1: Chỉ số trên (systolic pressure) trong khoảng 130 đến 139 mm thủy ngân (mmHg). Chỉ số dưới (diastolic pressure) trong khoảng 80 đến 89 mmHg.
Thời kỳ 2: Chỉ số trên (systolic pressure) cao hơn 139 mm thủy ngân (mmHg). Chỉ số dưới (diastolic pressure) cao hơn 89 mmHg.
Còn một tình trạng cao máu nhẹ thời kỳ sớm (prehypertension) khi chỉ số trên (systolic pressure) trong khoảng 120 đến 129 mm thủy ngân (mmHg) và chỉ số dưới (diastolic pressure) thấp hơn 80 mmHg.
Triệu chứng của cả ba giai đoạn cao huyết áp thường ít khi xảy ra, nhưng có khi bao gồm: nhức đầu, chóng mặt, chảy máu mũi, nôn ói, khó thở, mắt mờ.
Ngoài ra còn một tình trạng cao huyết áp độc hại (malignant hypertension) còn gọi là cao huyết áp khẩn cấp khi mà huyết áp rất cao làm cho mạch máu bị vỡ và đi kèm với suy yếu của ngũ tạng, thí dụ như chảy máu mắt, truỵ tim, tai biến não, hay suy thận.
Triệu chứng khẩn cấp gồm có: chóng mặt, bất tỉnh, đau ngực, nghẹt thở, lòa mắt, yếu hay bị tê các bắp thịt mặt hoặc tứ chi.
Nguyên nhân
Có hai nguyên nhân: cao máu nguyên thủy còn gọi là cao máu cấp một (primary hypertension) và cao máu vì bệnh khác, gọi là cao máu cấp hai (secondary hypertension).
Cao huyết áp cấp một gồm những tình trạng cao tuổi, đàn ông, béo phì, cao mỡ, cao cholesterol. Phụ nữ thường bị cao huyết áp sau khi nghỉ kinh. Cao máu nguyên thủy thường xảy ra trong gia đình có bệnh sử cao huyết áp.
Cao huyết áp cấp hai có thể gây ra bởi bệnh thận, ngủ bị nghẹt thở (sleep apnea), nghẽn động mạch chủ (coarctation of the aorta), các bệnh về mạch máu thận, bệnh về hệ thống nội tiết, do sử dụng thuốc ngừa thai, hút thuốc lá, uống rượu, uống thuốc giảm đau kinh niên, và uống thuốc an thần chống trầm cảm.
Nói chung chung, cao huyết áp thường phát triển không có một lý do nào rõ rệt cả, và thường trở nặng hơn theo năm tháng.

Lý do thường gặp nhất:
1-Tuổi tác
Nguy cơ bị cao huyết áp tăng dần với tuổi tác, lên hệ đến sự mất tính đàn hồi co giãn của mạch máu, bị thay đổi hormone như khi nghỉ kinh, và bị nhạy cảm với muối có trong thức ăn.
Một người trong độ tuổi 30 có thể bị cao máu nhẹ, và áp suất máu tăng dần. Nếu bị cao huyết áp trước tuổi 50 thì nguy cơ bị đột quỵ tim hay tai biến não sẽ tăng cao. Nếu không được chữa trị, bệnh cao huyết áp sẽ làm giảm tuổi thọ độ 10 năm.
2-Phái tính
Bệnh cao huyết áp thường xảy ra cho đàn ông nhiều hơn là đàn bà cho đến độ tuổi 45. Từ 45 đến 64 tuổi phần trăm bị cao máu là ngang nhau cho cả hai phái, và phái nữ bị cao huyết áp tăng nhiều hơn sau tuổi 55.
3-Chủng tộc
Người gốc Phi Châu và người gốc Châu Mỹ La Tinh dễ bị cao máu hơn là người da trắng. Người da vàng gốc Châu Á tương đối ít bị cao huyết áp. Tuy nhiên ngoài lý do chủng tộc, nguy cơ bị cao huyết áp vẫn tùy thuộc vào cách ăn uống, và nếp sống.
4-Bệnh thận
Bệnh thận kinh niên có thể ảnh hưởng đến thể tích máu và làm tăng áp suất máu.
5-Bệnh tiểu đường
Bệnh nhân bị bệnh tiểu đường thường hay bị suy thận. Tuy nhiên có nhiều người bị cao máu trước khi bị bệnh cao đường trong máu.
6-Các bệnh về tuyến nội tiết
Bệnh về tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận, và tuyến yên (pituitary disease) làm cho hormone bị thay đổi dẫn đến cao huyết áp.
7-Thuốc men
Một số thuốc men có thể làm tăng huyết áp thí dụ như steroids, thuốc ngừa thai, thuốc trị nghẹt mũi, thuốc có chứa caffeine, thuốc an thần và nhiều loại thuốc khác.
Lý do di truyền
Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng gây ra bệnh cao huyết áp nhất là tình trạng cao huyết áp nguyên thủy, cấp một. Yếu tố di truyền nắm khoảng 30 đến 50% nguy cơ cao huyết áp. Người ta vẫn chưa tìm ra một gene nào cụ thể quy định bệnh cao huyết áp, nhưng có thể là một tập hợp nhiều gene khác nhau. Nếu trong gia đình có người bị cao huyết áp thì nguy cơ bị bệnh sẽ tăng cao.
Nề nếp sống
Hút thuốc lá là lý do thông thường nhất gây ra bệnh cao huyết áp. Thuốc lá làm cho mạch máu bị hẹp lại, mất tính đàn hồi và dễ bị lở loét động mạch.
Ăn đồ mặn, nhiều muối là lý do đứng hàng thứ hai. Một số người có thể ăn mặn nhưng không bị cao máu, tuy nhiên thực phẩm của người Việt chúng ta có rất nhiều muối. Có khi ăn không thấy mặn lắm nhưng lại có rất nhiều muối, thí dụ như nước phở, bún, mì chẳng hạn.
Bị stress thường xuyên cũng làm tăng huyết áp do ảnh hưởng của các hormone stress thí dụ như epinephrine, norepinephrine, cortisol. Các hormone nầy làm co hẹp động mạch cũng như thay đổi phẩm chất của động mạch, dễ bị lở loét, bị nghẽn.
Tương tự như thuốc lá, rượu và ma túy, ví dụ như cocaine, heroin, và methamphetamine cũng làm tăng huyết áp. Tuy nhiên các loại ma túy thường đưa đến tình trạng cao máu khẩn cấp hơn là cao máu kinh niên.
Cuối cùng, thiếu vận động sẽ gây ra béo phì, thay đổi tình trạng hormone, làm tác động lên hệ thống máu.
Một cách tổng quan, bệnh cao huyết áp có thể giết người thầm lặng, nhưng cũng may là hầu hết các nguyên nhân đều có thể ngăn ngừa, tránh được để giảm ức độ nguy hiểm. Nên thường xuyên đo áp suất máu và lưu tâm đến cách phòng chống.

Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh
Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số phone liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com.

Sửa bởi người viết 05/12/2018 lúc 01:24:31(UTC)  | Lý do: Chưa rõ

song  
#2 Đã gửi : 04/12/2018 lúc 10:33:30(UTC)
song

Danh hiệu: Moderate

Nhóm: Registered
Gia nhập: 21-02-2012(UTC)
Bài viết: 13,131

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 2 lần trong 2 bài viết
Uống thuốc trị cao huyết áp

Hỏi
-Gần đây tôi nghe nói có hướng dẫn mới về điều trị cao huyết áp nhưng có sự bất đồng giữa các bác sĩ về hướng dẫn này. Xin cho biết chi tiết?
-Huyết áp số trên cỡ 140 đến 155, số dưới khoảng 85 đến 95, không thấy triệu chứng gì cả thì có cần uống thuốc không?
-Huyết áp số dưới phải bao nhiêu mới cần uống thuốc? Nếu một số trên hay số dưới bình thường, thì có cần uống thuốc hay không?
-Huyết áp số trên hay số dưới quan trọng hơn?
-Nếu uống thuốc mà huyết áp xuống lại bình thường thì có thể ngưng được không?
-Có người nói lớn tuổi thì huyết áp sẽ cao hơn, giống như già thì tóc bạc, là điều tự nhiên, không cần phải uống thuốc gì sất. Có đúng không?
-Huyết áp của ba tôi thường là khoảng hơn 170/100, có khi tới 190, 200, nhưng ông không chịu uống thuốc cao huyết áp vì nói không thấy bị nhức đầu, chóng mặt hay triệu chứng gì cả. Như vậy có đúng không?
-Đo huyết áp như thế nào thì kết quả mới chính xác?
-Đã uống thuốc rồi thì có còn cần tập thể dục và ăn uống theo cách bác sĩ đã khuyên trong bài báo trước hay không? 

Đáp 
Hồi Tháng Mười Một, 2017, các hội của các bác sĩ tim mạch có đưa ra một hướng dẫn mới, theo đó, nếu huyết áp từ 130 hoặc 80 trở lên thì đươc coi là cao huyết áp. Tuy nhiên, một có các hội y khoa khác, như hội các bác sĩ gia đình thì lại không đồng ý với hướng dẫn trên, cho rằng các hướng dẫn mới đó không dựa trên các nghiên cứu kỹ lưỡng và có giá trị, và vẫn duy trì tiêu chuẩn trước đó.
Các tiêu chuẩn trước đó là:
-Huyết áp được coi là bình thường khi huyết áp tâm thu (systolic) dưới 120 và huyết áp tâm trương (diastolic) dưới 80.
-Được gọi là tiền cao huyết áp khi huyết áp tâm thu từ 120 đến 139 hoặc huyết áp tâm trương từ 80 đến 89.
-Chẩn đoán là cao huyết áp khi huyết áp tâm thu từ 140 trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 trở lên.
Ví dụ, cả ba trường hợp sau, đều được coi là cao huyết áp:
-140/65 (số trên từ 140 trở lên), hoặc;
-132/90 (số dưới từ 90 trở lên), hoặc;
-147/90 (cả hay số đều cao, từ 140 và từ 90 trở lên).
Một cách chung chung, dựa trên các hướng dẫn nói trên, một cách trung dung, kết hợp cả hai phía, nhiều bác sĩ cho rằng chỉ cần một trong hai số cao hơn 140 (hoặc 130 và có nguy cơ cao bị biến chứng tim mạch như đang bị bệnh thận, suy tim, đã bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tiểu đường) hay 90 (hoặc 80 và có nguy cơ cao) thì được coi là cao huyết áp. Và cần uống thuốc.
Tức là nếu huyết áp trên 140 hoặc 90 thì, dù theo trường phái nào, cũng cần phải uống thuốc cao huyết áp, bên cạnh việc ăn kiêng (giảm muối, mở, tăng rau quả), và thể dục.
Ghi chú:
-Huyết áp tâm thu (systolic blood pressure) là áp lực trên thành mạch máu khi tim co bóp lại để đẩy máu ra các động mạch.
-Huyết áp tâm trương (diastolic blood pressure) là áp lực trên thành mạch máu khi tim dãn ra để nhận máu từ các tỉnh mạch đưa về).
***
Ở những người bị tiền cao huyết áp (huyết áp tâm thu từ 120 đến 139 hoặc huyết áp tâm trương từ 80 đến 89), cần áp dụng các phương pháp hạ huyết áp không dùng thuốc như là giảm cân đến mức vừa phải (nếu bị quá cân), giảm muối, tránh uống rượu quá một phần một ngày (tương đương với khoảng một lon bia) nếu là phụ nữ hoặc đàn ông nhẹ cân, hoặc dưới hai phần một ngày nếu là đàn ông to con.
Nếu bị tiền cao huyết áp mà cũng bị tiểu đường, bệnh thận mạn tính, bị tổn thương các cơ quan nội tạng, hoặc bị bệnh tim mạch, có thể sẽ cũng cần hạ huyết áp bằng thuốc bên cạnh các phương pháp không dùng thuốc.
***
Cần nhớ là các con số huyết áp nói trên cần phải dựa trên việc đo huyết áp một cách chính xác từ hai lần trở lên trong ít nhất là hai lần khám bác sĩ.
Đo huyết áp nên được thực hiện khi ta ngồi nghỉ ít nhất là 5 phút, trên ghế (chứ không phải trên giường khám bệnh), chân đặt trên sàn nhà, cánh tay ở ngang mức trái tim.
Bị bệnh các bệnh cấp tính, như đang sưng đau khớp, sốt… sẽ thường có khuynh hướng làm huyết áp tăng lên, do đó, nên đo lại khi đã qua khỏi các cơn cấp tính đó, có thể kết quả sẽ chính xác hơn. Tuy nhiên, nếu đang bị bệnh cấp tính, mà huyết áp cao quá, thì bác sĩ có thể (bên cạnh việc chữa các bệnh cấp tính đó) cũng sẽ cần cho thuốc để hạ huyết áp xuống đến mức an toàn, và sẽ kiểm soát lại huyết áp và điều chỉnh lại thuốc sau khi bệnh nhân đã qua cơn cấp tính.
Cần dùng vòng bao xung quanh tay khi đo (cuff) đúng kích thước, vì nếu người to con mà dùng vòng bao nhỏ quá, huyết áp sẽ có khuynh hướng cao hơn thực tế, và ngược lại.
***
Như đã trình bày trong một kỳ trước, cao huyết áp được đặt tên là “tên giết người thầm lặng,” vì thường không có triệu chứng.
Một khi có triệu chứng, thì thường đó là triệu chứng của các biến chứng của bệnh cao huyết áp, như là bị:
-Đột quỵ (strokes), gây ra bại, liệt, tiêu tiểu không kiểm soát được, mù mắt, không nói được…
-Các cơn kích tim (heart attacks) gây ra đau ngực, suy tim, chết…
-Suy thận, gây phù nề, đi tiểu nhiều lần, hoặc không còn có nước tiểu, suy kiệt, ngứa toàn thân, cần phải đi lọc thận suốt đời…
Do đó, không nên đợi đến lúc có triệu chứng rồi mới dùng thuốc, vì thường sẽ không giúp gì nhiều trong việc làm cho các biến chứng “biến mất.”
***
Ở những người lớn hơn 50 tuổi, huyết áp tâm thu nếu cao hơn 140 có ảnh hưởng quan trọng hơn nhiều đến nguy cơ bị các biến chứng tim mạch, so với chỉ số huyết áp tâm trương.
Đúng là già thì đầu bạc, và huyết áp thường cao hơn.
Tuy nhiên, đầu bạc không gây ra biến chứng nguy hiểm gì cả, trong khi huyết áp cao lại dẫn đến các biến chứng nguy hiểm, và biến chứng này lại dễ xảy ra ở người lớn tuổi hơn.
Do đó, tuổi càng cao, mà huyết áp cao thì càng cần uống thuốc, nếu không muốn bị bại liệt nằm một chỗ tiêu tiểu không kiểm soát được, người suy kiệt, ngứa ngáy, phải đi lọc thận suốt đời, cũng như nhiều biến chứng khác như đã kể.
***
Khi uống thuốc trị cao huyết áp mà huyết áp trở lại bình thường, thì đó là nhờ thuốc, nếu ngưng thuốc, huyết áp sẽ bật cao trở lại rất nguy hiểm.
Chỉ trong các trường hợp ít gặp, bệnh nhân đã uống liều thuốc trị cao huyết áp thấp nhất, mà huyết áp vẫn rất thấp, bác sĩ sẽ có thể khuyên bệnh nhân thử ngưng thuốc, và theo dõi cẩn thận. Việc ngưng thuốc (chỉ) trong các trường hợp (rất ít gặp) này, cần được sự theo dõi cẩn thận và khuyến cáo của bác sĩ.
Thân mến
Bác sĩ Nguyễn Trần Hoàng
www.nguyentranhoang.com
(714) 531-7930
song  
#3 Đã gửi : 05/12/2018 lúc 01:23:25(UTC)
song

Danh hiệu: Moderate

Nhóm: Registered
Gia nhập: 21-02-2012(UTC)
Bài viết: 13,131

Cảm ơn: 1 lần
Được cảm ơn: 2 lần trong 2 bài viết
Chẩn bệnh và trị bệnh cao huyết áp

Chẩn bệnh cao huyết áp
Bệnh cao huyết áp thường thường không có triệu chứng gì rõ rệt cho tới khi quá trễ. Nếu có triệu chứng, gồm có chóng mặt, khó thở, nhức đầu, chảy máu mũi đi kèm với áp suất máu tăng cao. Trong trường hợp áp suất máu tăng cao quá độ một cách khẩn cấp, triệu chứng gồm có mắt mờ, nôn mửa, đau ngực hay hồi hộp.
Theo định nghĩa, cao huyết áp khi áp suất máu tăng trên 130/ 80 mmHg. Áp suất máu có thể đo được bằng các dụng cụ đo áp suất máu thông dụng. Áp suất máu có thể thay đổi thường xuyên trong ngày tùy thuộc vào hoạt động, tình trạng nước trong cơ thể, mức độ thoải mái hay sợ hãi, và nhiều lý do khác nhau. Áp suất máu đo tại phòng mạch bác sĩ thường là không chính xác lắm do hồi hộp vì sợ… bác sĩ! Áp suất máu trung bình trong ngày sẽ chính xác hơn. Để gọi là cao huyết áp, áp suất máu trung bình phải được đo tối thiểu 3 lần trên mức 130/80 và đo trong vòng một tuần lễ.
Bệnh cao huyết áp có thể phân loại thành hai thời kỳ
-Cấp 1: chỉ số trên trong khoảng 130 đến 139 mmHg, và chỉ số dưới trong khoảng 80-89 mmHg.
-Cấp 2: chỉ số trên cao hơn 139 mmHg, và chỉ số dưới cao hơn 89mmHg.
Trong trường hợp khẩn cấp, áp suất máu có thể lên đến 180/120 mmHg.
Bác sĩ có khi phải cho thử nghiệm để tìm hiểu thêm nguyên nhân bị bệnh cao huyết áp. Một số thử máu căn bản gồm có: thử lượng electrolytes, thử đường, hormone tuyến giáp trạng, và các thử máu liên hệ đên sự hoạt động của trái thận. Một đôi khi bác sĩ cho đo điện tâm đồ (Echocardiogram), siêu âm tim và thận, cũng như CAT Scan hoặc MRI.
Một số nguyên nhân gây ra bệnh cao huyết áp do từ các bệnh khác cũng cần phải được loại trừ để chữa tận gốc, gồm có: phản ứng phụ của thuốc bao gồm các loại thuốc dược thảo, thuốc giảm đau, thuốc an thần, hoặc ma túy; bệnh suy thận cũng làm cho cao huyết áp, và bệnh cường tuyến giáp. Có khi bị bướu tuyến thượng thận gọi là pheochromocytoma cũng làm tăng huyết áp.
Chữa trị bệnh cao huyết áp
Bệnh cao huyết áp về cơ bản có thể chữa trị bằng cách thay đổi lề lối sống trước khi phải sử dụng thuốc men. Hầu hết bệnh nhân bị cao huyết áp có thể kiểm soát được với các loại thuốc như thuốc lợi tiểu (diuretics), thuốc điều chỉnh áp suất máu ở trai thận gọi là ACE inhibitors, thuốc điều chỉnh nhịp đập của tim và độ co thắt của mạch máu gọi là beta-blockers, hay calcium channel blockers.
Thay đổi nếp sống bao gồm: bỏ thuốc lá, ăn uống điều độ, bớt ăn muối, xuống cân, và tăng cường vận động, tập thể dục thể thao đều đặn mà đơn giản nhất vẫn là đi bộ mỗi ngày 30 phút. Dĩ nhiên, stress, thiếu bình an, và những sợ hãi thường xuyên trong cuộc sống cũng làm tăng huyết áp.
Khi phải sử dụng thuốc men, mục đích tối hậu vẫn là giữ cho được áp suất máu dưới mức 130/80. Đa phần, một khi phải dùng thuốc, bệnh nhân phải uống thuốc đều đặn mỗi ngày, trọn đời. Không nên, và không bao giờ ngưng uống thuốc nếu không có sự đồng ý của bác sĩ. Tai biến não xảy ra khi ngưng thuốc trị cao huyết áp.
1.Thuốc lợi tiểu (diuretics), làm cho trái thận thải nhiều nước tiểu ra ngoài để giảm bớt thể tích máu. Thuốc cũng dùng cho trường hợp bệnh nhân ăn mặn quá độ. Loại thuốc thông dụng nhất hiện nay là hydrochlorothiazide. Ngoài ra còn có các thương hiệu khác như: Diamox (acetazolamide), Thalidone, Tenoretic, and Clorpres (chlorthalidone), HydroDiuril, Microzide, and Esidrix (hydrochlorothiazide), Lozol (indapamide), Zaroxolyn, Mykrox (metolazone).
2.Thuốc Angiotensin-converting enzyme (ACE) inhibitors, giảm áp suất máu bằng cách làm cho mạch máu giản nở to ra. Các loại thuốc trong nhóm này gồm có: Lotensin (benazepril), Capoten (captopril), Vasotec, Vaseretic (enalapril), Monopril (fosinopril), Prinivil, Zestril (lisinopril), Univasc (moexipril), Accupril (quinapril), Altace (Ramipril), Mavik (trandolapril)
3.Thuốc Calcium channel blockers giảm áp suất máu bằng cách làm giãn nở mạch máu và giảm bớt sức co bóp của trái tim. Thuốc trong nhóm này gồm có Norvasc, Caduet, and Lotrel (amlodipine), Cardizem, Dilacor, and Tiazac (diltiazem), Plendil (felodipine), DynaCirc (isradipine), Cardene (nicardipine), Procardia XL, Adalat (nifedipine), Sular (nisoldipine), Isoptin, Calan, Verelan, and Covera (verapamil hydrochloride)
4.Thuốc Beta blockers giảm áp suất máu bằng cách giảm bớt nhịp đập trái tim. Các thuốc trong nhóm này gồm có Tenormin (atenolol), Normodyne, Trandate (labetalol), Lopressor, Toprol (metoprolol), Corgard (nadolol), Inderal, Inderal LA (propranolol), Blocadren (timolol).
5.Thuốc Angiotensin II receptor blockers (ARBs) giảm áp suất máu bằng cách làm giãn nở mạch máu. Các loại thuốc trong nhóm này gồm có Atacand (candesartan), Avapro (irbesartan), Cozaar (losartan), Micardis (telmisartan), Diovan (valsartan).
Ngoài ra, nên tránh uống các loại thuốc giảm đau như Ibuprofen, thuốc trị nghẹt mũi có chứa pseudoephedrine, hay bớt uống cà phê, hoặc các loại thuốc “tăng cường sinh lực”.
Có khi bác sĩ chỉ sử dụng một loại thuốc, nhưng cũng có những trường hợp phải kết hợp hai loại thuốc lại với nhau.
Hầu hết các loại thuốc trên đây đều có các phản ứng phụ như hồi hộp, chóng mặt, nhức đầu, sưng phù tay chân, và gây ra chứng liệt dương.
Nói chung, để tránh uống thuốc thì nên bắt đầu bằng những thay đổi nhỏ trong đời sống. Nên để ý đến những yếu tố làm kích động áp suất, thí dụ như stress, ăn nhiều muối, uống thuốc dược thảo và tìm cách thay đổi, điều chỉnh.

Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh
Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số phone liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com.

Ai đang xem chủ đề này?
Guest (3)
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.

Powered by YAF.NET | YAF.NET © 2003-2018, Yet Another Forum.NET
Thời gian xử lý trang này hết 0.182 giây.