Ngày 14 tháng 8 năm 2019, chúng tôi chín người, hai nam bảy nữ đều ở tuổi về hưu, cùng đáp chuyến xe van từ Little Sài Gòn đi học tại Trường Thiền Vipassana thuộc dòng thiền U Ba Khin-Goenka, trong thành phố Twentynine Palms thuộc quận hạt San Bernadino.
Thành phố này cách Little Sài gòn khoảng hai giờ mười lăm phút xe về phía Đông Bắc, qua các freeway 22 East, 57 East, 60 East và 62 East. Chúng tôi vốn không quen biết nhau, nhưng khi ghi tên trên mạng thì nhà trường cho biết có thể liên lạc với nhau để chia sẻ tiền xe. Cũng là thiện duyên nên mỗi người chỉ trả tiền xe vừa túi tiền người già.
Thật ra gọi là cao niên thì vui hơn, vì xem ra ai cũng còn đi lại nhanh nhẹn, xách va li chứa mọi thứ cần dùng cho mười ngày thiền tập. Tất nhiên thông báo trên mạng mười ngày là mười ngày không hơn không kém, nên không sợ thiếu thốn hụt hẫng gì. Khởi hành từ 12 giờ trưa từ khu Bolsa, chiếc xe van với sức chứa 13 người cả hành lý nhẹ nhàng lướt đi với cô tài xế người Việt còn trẻ vui vẻ, khoảng ngoài 40, lái xe êm và an toàn. Ai cũng có điện thoại cầm tay có Uber App, nhưng hầu như ai cũng thích đi với tài xế người Việt mà chúng tội gọi đùa là Uber cộng đồng, nói tiếng Việt dễ thông cảm.
Thành phố 29 Palms nằm trên vùng sa mạc cao Mojave ( Mojave High Desert ), trên mặt biển 2000 bộ (khoảng 600 mét), mùa này nhiệt độ có thể lên đến 116 F. Từ vùng biển Bolsa nhiệt độ khoảng 85, các hành khách đều dự trù sắp phải chịu cái nóng sa mạc núi. Khi đến vùng Joshua Tree Community, tức là chỉ còn ít phút là tới trường, trong xe máy lạnh mát rượi, nhưng nhìn qua cửa kính hành khách có thể cảm thấy được cái khô cái nóng với những rặng núi trọc, cây cối èo uột, những giải cát lạnh lùng. Nhưng đây cũng là một thị trấn với đầy đủ mọi dịch vụ đời sống. Chúng tôi tự hỏi không biết dân cư sinh sống bằng nguồn lợi kinh tế gì. Hóa ra nguồn lợi đó đến từ Joshua Tree National Park, nằm ở phía Nam của 29 Palms City mà thành phố cũng là một lối vào qua ngã Oasis of Mara. Mỗi năm du khách lên đến 140,000 . Theo truyền thuyết thổ dân, Oasis of Mara chính là nơi trồng 29 cây cọ của thổ dân Serrano, nơi mà đại tá Henry Washington là người đầu tiên khám phá ra năm 1852. Hiện nay tại ranh giới thành phố, du khách thấy một biển đề WELCOME TO THE CITY OF TWENTYNINE PALMS với 11 cây cọ trồng phía sau.
Sắp đến trường rồi. Tự nhiên câu văn bất tử của nhà văn Thanh Tịnh ( 1911-1988) thuộc lòng từ thời ấu thơ bật hiện lên trong tâm trí “Hằng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc……………..Buổi mai hôm ấy , một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn : hôm nay tôi đi học ….( truyện ngắn Tôi Đi Học 1941 ).
Hồi năm sáu tuổi mẹ dẫn đi học, bây giờ, bẩy mươi năm sau, mình tự xin đi học, chỉ có cô tài xế dẫn, vào mùa hè nóng bức, trên con đường hoàn toàn xa lạ, mà chẳng phải để học chữ cũng không phải học một nghề. Học nghề để kiếm tiền nuôi thân, học chữ may ra có chút danh vị xã hội; nhưng học thiền……để làm gì ?
“Tới rồi các bác ơi”. Tôi như choàng tỉnh từ cơn mê. Thân mình đang ngồi đây trong xe mà tâm lang thang mãi về một quá khứ xa xăm ; đang sống thực ở nước Mỹ mà tâm trôi giạt về một người mẹ đã khuất cả nửa thế kỷ, về một ngôi làng có lẽ đã không còn trên bản đồ. Có lẽ các bác khác cũng ngủ gà ngủ gật, chỉ một mình cô tài xế tỉnh thức. Mắt cô ấy, tai cô ấy, hai bàn tay, hai bàn chân, hay nói cho đúng toàn thân cô đang bám vào thực tế cùng với tâm không rời đường đất từng giây phút. Nếu thân đang lái xe mà tâm cô lang thang như tôi hoặc tâm lâm vào cảnh hôn trầm buồn ngủ thì việc gì sẽ xảy ra ? Giống như một người đang lái xe mà text tới text lui?
Có lẽ tâm cô đã ở trong định rồi, thân tâm nhất như. Nếu không, có thể sẽ xảy ra những tai nạn gây khổ đau cho chính bản thân cô, chồng con cô, và cho cả hành khách và gia quyến họ. Cô học nghề lái xe để kiếm tiền nuôi thân, nhưng sự định tâm giúp cô ngăn ngừa những khổ đau cho mình và cho tha nhân. Có lẽ tôi tự trả lời câu hỏi tự mình đặt ra ở trên, học thiền để làm gì ?
Tuy nhiên sự định tâm còn nhiều tầng cấp sâu hơn. Học thiền để xa rời đời sống thực hay để sống thực khôn ngoan hơn ? Tôi nhớ lại một định nghĩa về thiền trong sách Vi Diệu Pháp Toát Yếu : “Gọi là Jhana (Thiền—tiếng Samskrt là Dhyana) vì nó suy gẫm bám sát vào đối tượng; hay bởi vì nó thiêu đốt những chướng ngại, Nivaranas; Jhana là chăm chú mạnh mẽ gom tâm vào một đối tượng” ( Dịch từ Anh ngữ : Jhana is so called because it thinks closely of an object or because it burns those adverse things –hindrances—Nivaranas—By Jhana is meant wilful concentration on an object).
(A Manual Of Abhidhamma—Tác giả Bhadanta Anuruddhacariya—chuyển dịch từ Pali sang Anh ngữ : Đại Đức Narada Maha Thera—chuyển dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ :Phạm Kim Khánh—— trang 62 bản tiềng Việt—trang 47 bản tiếng Anh“).
Như vậy có lẽ cô tài xế mỗi khi lên xe là một lần hành thiền chăng ? Chắc là vậy nhưng tôi nghĩ mới đúng một phần, vì phần quan trọng hơn là “thiêu đốt những Nivaranas”. Nivaranas là năm chướng ngại mà Thiền sư Goenka trong những bài giảng gọi là năm kẻ thù của người tập thiền. Đó là : Ham muốn ( kamachanda )- Ghét bỏ (vyapada)-Uể oải tinh thần và thể xác (thina-middha)-bồn chồn, bất an (uddhacca-kukkucca)-nghi ngờ, không chắc chắn (vicikiccha).
Hơn nữa, không phải chỉ hành thiền lúc làm việc mà trong mọi lúc của đời thường.
Trường không có tường xây bao quanh, chỉ có hàng rào tạm bằng lưới sắt. Con đường dẫn vào chỗ đậu xe chưa tráng nhựa. Cả chỗ đậu xe và tất cả các con đường trong khuôn viên trường đều chỉ là cát sỏi, rìa đường và rìa các khu vườn hoa đều trang trí bằng những viên đá đủ cỡ. Đây là xứ sở của đá. Những viên đá này mang về Little Sài Gòn thì biết bao nhiêu tiền. Ra khỏi xe máy lạnh, cơn nóng phả vào mặt, quí bà hơi vất vả kéo vali trên sỏi cát lên những con dốc vào phòng ghi tên nhập học.
Nhìn tổng quát, khuôn viên trường không thấy một hình tượng Phật hay Bồ Tát như trong những thiền viện ở vùng Bolsa. Phòng ghi tên là phòng Dining Hall, phân làm đôi, bên nam bên nữ. Trong phòng cũng không có một hình tượng tôn giáo nào.
Hai người Mỹ trung niên ngồi trên bàn hướng dẫn những học viên mới tới về bản đồ phòng ngủ, về kỷ luật tự giác với những qui định của trường. Nhìn những học viên mới tới,tôi mới ngạc nhiên về những thành kiến của mình . Không phải chỉ có những vị cao niên mới đi học thiền. Trong tổng số 40 thiền sinh có tới 30 là thanh niên tuổi từ 20 đến 50. Họ có thể đang là những sinh viên đại học, hoặc đã là kỹ sư, bác sĩ, thương gia v..v..da trắng da đen dủ mọi nguồn gốc. Đâu phải thanh niên đi học thiền để rút lui khỏi đời sống thực của họ trong xã hội. Chỉ có ba ông già Mỹ, và sáu ông già Việt Nam. Phía nữ , số cao niên Việt nhiều hơn.
Kỳ này là khóa song ngữ Anh Việt. Nhìn trên bảng cáo thị, chữ đập vào mắt tôi là chữ in đậm khổ lớn NOBLE SILENCE –IM LẶNG THÁNH THIỆN. Đọc trong bản hướng dẫn, kể từ 4 giờ sáng mai tất cả học viên không được nói chuyện , ra dấu, viết thông tin cho nhau. Ngay chiều nay mọi học viên được yêu cầu nạp cho văn phòng : điện thoại di động, máy chụp hình, radio, tập vở, bút , thuốc không toa, thực phẩm, nhang đèn, tràng hạt. Thiền sinh không được viết nhật ký, không được cử hành những nghi thức tôn giáo. Những điều này coi như thiền sinh đã tự nguyện theo trước khi ghi danh.
Chiều nay thiền sinh mới được ăn nhẹ bữa dinner, còn thiền sinh cũ chỉ được uống nước trái cây. Thiền sinh cũ là những người đã qua khóa 10 ngày năm ngoái rồi, khoá này ghi tên học lại và làm những việc thiện nguyện như vệ sinh, nấu bếp, giám thị giúp thầy cô …Thầy cô ở đây là những vị thiền sư phụ tá cho Ngài Thiền Sư Goenka ( 1924-2013 ) hướng dẫn khóa tu , trả lời những câu hỏi của thiền sinh sau một buổi thực tập. Trong khóa này thầy là thiền sư Đinh Thảo hướng dẫn bên nam ; cô là Đinh Lan, phu nhân của thầy, hướng dẫn bên nữ.
Theo bản đồ, tôi kéo vali về phòng, vừa đi vừa nghĩ “đi nhận phòng khách sạn”, nhưng đúng ra là nhập thất , theo ngôn ngữ nhà thiền. Các dãy phòng ngủ đều mới xây cất, ở trên những độ cao khác nhau theo thế đất. Những vị cao niên được ở phòng riêng, còn các thanh niên ở chung trong một khu khác. Mỗi thất có chiều dài chừng năm mét, chiều rộng bốn mét, có một giường đơn, một tủ nhỏ, có đủ máy lạnh, quạt máy, đèn ngủ, đồng hồ báo thức để sẵn 4AM, bồn tắm, bồn rửa mặt, bồn vệ sinh rất sạch sẽ. Sự sạch sẽ này không phải do những bồi phòng khách sạn làm mà do những thiền sinh khóa trước nối tay nhau làm trước khi về. Một bản đánh máy treo trong phòng vệ sinh hướng dẫn thiền sinh tự làm hằng ngày với những cây cọ, thuốc khử trùng, bao tay, bàn chải quét phòng . Thiền sinh phải mang riêng túi ngủ, áo gối, tấm trải giường, nên theo kinh nghiệm, trước khi bao gối trải tấm phủ, tôi lấy thuốc khử trùng xịt một vòng quanh khe giường, khe tường, khe cửa, khe tủ đề phòng rệp, gián, kiến, nhện…xâm nhập .
Đã 5 giờ chiều, còn một tiếng nghỉ ngơi trước khi nghe kẻng báo giờ ăn, tôi vặn máy lạnh nằm ngủ thoải mái . Mặc kệ bên ngoài 110 độ F, trong phòng mát lạnh tôi mơ màng ngủ một giấc thần tiên. Đời mình đã bao phen đi học, nhưng đều là do ngoại lực xã hội thúc đẩy, chưa bao giờ như hôm nay mình tự vác thân đi học . Đời mình đã bao phen ngủ bờ ngủ bụi ngủ rừng, chưa bao giờ như hôm nay ngủ bình yên tự tại . Hôm nay tôi đi học, chẳng phải để học chữ như nhà văn Thanh Tịnh, chẳng phải học một nghề sinh nhai. Chỉ để học những kỹ thuật thực hành làm sao chăm chú mạnh mẽ gom tâm vào một đối tượng và nhất là thiêu đốt những chướng ngại .
Tiếng kẻng vang lên, từ các khu phòng ngủ các thiền sinh lục tục đi đến phòng ăn, người nào cũng mang theo một bình để lấy nước trong nhà bếp. Tôi mang theo mọi thứ cần gởi văn phòng. Thế là không có đồng hồ để căn giờ, phải tập nhìn trời mà đoán chừng. Trong giờ ăn, mọi người vẫn nói chuyện rào rào, chưa phải tuân hành nội quy “Im Lặng Thánh Thiện”
7 giờ tối, tất cả thiền sinh nam nữ 80 người tập trung trước cửa thiền đường chính. Trưởng lớp mỗi bên nam nữ gọi tên từng người vào nhận chỗ cố định cho suốt khóa. Các người trẻ ngồi trên những bồ đoàn không dựa lưng. Các vị cao niên được ngồi trên ghế hoặc dựa tường.
Tôi để ý có bạn trẻ dùng tới tám hoặc mười món tọa cụ , vừa kê mông, vừa kê đầu gối. Đủ các thế ngồi, kiểu ngồi, không cần kiết già hay bán già. Quần áo mùa hè cũng tự do, không cần đồng phục như các thiền viện khác. Trong thiền đường chung cũng không trưng bày bất cứ hình tượng tôn giáo nào. Tất cả hiện tượng bên ngoài đó cho thấy tinh thần bên trong của pháp môn U Ba Khin –Goenka : Vipassana đúng nghĩa nguyên thủy không vụ vào những nghi thức tôn giáo của các tông phái khác nhau. Còn về những hình thức trang phục, chỉ cần kín đáo trang nhã thoải mái.
Bài giảng nhập môn bắt đầu bằng CD của Ngài Goenka mà thiền sư phụ tá bật lên sau khi thiền đường lặng im phăng phắc. Trước hết , bài giảng nhắc sơ qua về thời khóa biểu của thiền sinh từ 4 giờ sáng đến 9 giờ rưỡi tối. Mỗi đêm chỉ ngủ 6 tiếng, chính yếu là ngồi thiền 12 tiếng trong đó 8 tiếng rưỡi tại thiền đường chung và 3 tiếng rưỡi tại thất riêng; thời gian còn lại là ăn uống và nghỉ ngơi tự do. Không lao động trí óc, tức là không đọc sách báo, không viết nhật ký; không lao động thể xác. Việc ăn uống đã có những thiền sinh cũ tự nguyện phục vụ. Như vậy thiền sinh chỉ lo tu.
Tiếp đó bài giảng nói tổng quát về ba chặng đường tu tập : Giới—Định—Tuệ ( Sila—Samadhi—Panna ). Ba chặng đường này nhằm đến mục đích cuối cùng là Giải Thoát
( Vimokkha ) khỏi mọi ràng buộc của Tham Sân Si ( Raga-Dosa-Moha). Chặng đường này có thể dài một năm , mười hay hai mươi năm. Riêng Ngài Goenka phải trải qua 14 năm tu tập mới được Thầy U Ba Khin chứng cho được làm đệ tử truyền thừa dòng Vipassana nguyên thủy.
Nội quy của trường giúp thiền sinh giữ năm giới căn bản là điều kiện tiên quyết : không dùng bạo lực giết hại sinh vật; không trộm cắp cướp những gì không phải của mình làm ra; không làm bất cứ hành vi dâm dục nào như ra dấu, đụng chạm thân thể; không nói sai sự thực , không nói lời ác , đâm thọc , thêu dệt.; không dùng các thuốc gây say hay kích thích.
Thiền sinh nào phạm giới sẽ được nhắc nhở nhiều lần trước khi ban giám đốc có quyết định mời rời khỏi trường. Trường không nhận những bệnh nhân tâm thần vì họ không dủ ý thức tự chủ tự giác.
Về giới thứ nhất, hai bữa ăn không có thịt động vật ; về hai giới kế, mỗi thiền sinh tự giác xét mình ; về giới thứ tư, thiền sinh tuyệt đối tuân thủ Im Lặng Thánh Thiện . Thiền Sư nói “Trò chuyện là trái nghịch với nỗ lực hành thiền”.
Tuân thủ năm giới nghiêm chỉnh rồi mới có Chánh Định ( Samma Samadhi ). Bởi vì kẻ sát nhân, kẻ cướp thường có định lực cao để thi hành tội ác. Đó chỉ là tà định. Những hạng người này không theo năm giới mà lấy bạo lực đàn áp và mọi hành vi cướp bóc làm nguyên tắc sống.
Trong ba ngày đầu thiền sinh sẽ được hướng dẫn thực tập pháp Anapanasati tức là pháp ý thức về hơi thở ra vào để định tâm, có nghĩa là sự thực tập định tâm sẽ kéo dài 36 tiếng đồng hồ.
Sáu ngày kế tiếp là phần chính của khóa học với 72 tiếng luyện Vipassana , là pháp truy tầm cảm giác trên khắp châu thân tức là hướng tâm trở về nội thân mà không hướng tới đối tượng gây ra những cảm giác ấy. Vipassana là phương pháp thanh lọc Tâm khỏi mọi pháp bất tịnh như tham đắm, giận dữ, sợ hãi, kiêu mạn, ghen ghét, than trách…. “Chúng ta luôn luôn tìm kiếm bên ngoài ta những nguyên nhân của sự bất hạnh.Chúng ta luôn luôn đổ lỗi và cố thay đổi sự thật bên ngoài. Vô minh về sự thật bên trong, chúng ta không bao giờ hiểu rằng nguồn gốc
của sự đau khổ nằm trong ta, nằm ngay trong những phản ứng mù quáng đối với những cảm giác dễ chịu và khó chịu” “We always looked outside for the cause of our unhappiness ; we always blamed and tried to change the reality outside. Being ignorant of the inner reality, we never understood that the cause of suffering lies within, in our own blind reactions toward pleasant and unpleasant sensations” ( Tài liệu giảng dậy : The Art Of Living : Vipassana Meditation—S.N Goenka ). Ta cần phân biệt reaction (phản ứng ) với action (hành động). Phản ứng thường có tính cách bản năng, máy móc, mù quáng ; hành động thường được cân nhắc bởi lý trí.
Bài giảng nhập môn chấm dứt lúc 9 giờ tối. Thiền sinh rời thiền đừơng im lặng trở về thất riêng trong bóng đêm vùng núi, coi như chuẩn bị thức dậy vào 4 giờ sáng mai là ngày đầu tiên của khóa tu. Tùy theo thời khóa biểu chung, mỗi người sắp xếp làm vệ sinh cá nhân theo cách của mình. Riêng tôi, sắp xếp tắm sau 9 giờ tối, lau chùi phòng tắm khô ráo rồi đi ngủ ; buổi sáng lau chùi bồn rửa mặt và bồn cầu; buổi trưa quét phòng xịt thuốc thơm. Đó là ba lần lao động chân tay nhẹ nhàng trong một ngày không ra một tí mồ hôi.
Mở máy lạnh, bật đồng hồ báo thức và nằm chờ giấc ngủ. Tôi mơ màng nhớ đến bốn giai thoại về thiền sư U Ba Khin.
Câu chuyện 1: Sayagyi U Ba Khin sinh năm 1899 trong một gia dình Miến Điện nghèo. Bẩm chất thông minh, học xuất sắc, nhưng phải bỏ ngang đại học đi làm nuôi gia đình chỉ với chức thư ký kế toán cho Văn Phòng Kế toán Trung Ương. Năm 1926 đậu bằng Nghiệp Vụ Kế Toán. Nhờ cách làm việc giỏi, có đạo đức thanh liêm, ông được thăng dần lên đến chức Đệ Nhất Tổng Quản Sở năm 1937, Tổng Giám Đốc Kế Toán Hỏa Xa Miến Điện năm 1941, Tổng Trưởng Kế toán năm 1948. Mặc dầu đến tuổi hưu trí năm 1954, ông vẫn được chính phủ bổ nhiệm làm tổng trưởng kiêm nhiều bộ, làm việc thêm 12 năm nữa. Ông là nhân tố quan trọng làm trong sạch guồng máy chính quyền.
Năm 1937, lần đầu tiên tu tập Vipassana với thiền sư Saya Thetgyi. Năm 1941 ông được gặp thiền sư Swebo Sayadow vốn được dân chúng coi như một vị A La Hán của Phật giáo Miến Điện. Năm 1950 lập Hội thiền Vipassana tại Văn Phòng Kế Toán Trung Ương , dạy thiền cho nhân viên công chức. Năm 1951 lập International Meditation Center ( IMC ) tại Rangoon. Trung tâm này được Ngài Sayadow thăm viếng năm 1953.
Thiền sư U Ba Khin mất năm 1971, hai năm sau khi cao đồ là thiền sư Goenka vào năm 1969 đem thiền Vipassana về lại cội nguồn Ấn Độ , giấc mơ mà Ngài U Ba Khin ấp ủ suốt đời.