Câu chuyện này xảy ra đã rất lâu, ở một nơi rất xa phía bên kia trái đất, nên nghe có vẻ lạ lùng như là bịa đặt. Nhưng đây là chuyện có thật và bé Ly Ly có khả năng học tập bình thường, tôi xin cam đoan. Ly Ly lớn lên, trở thành một người rất thông minh, theo lời cô của bé. Thời nay, chúng ta có khuynh hướng ban tặng những lời khen hào phóng chẳng khác việc tung thức ăn cho chim chóc ở công viên. Nhưng trong trường hợp của Ly Ly, nếu cần thì bạn cứ giảm sự đánh giá đó xuống một bậc là đủ.
Gia đình bé sống trong một khu dân cư đông đúc, vô danh của thành phố. Cũng như những người hàng xóm, họ không theo một tôn giáo nào cụ thể; họ chỉ tin có ông trời. Ông trời của họ thậm chí không có tên. Nếu bạn đang nghĩ đến những món hàng "không nhãn hiệu" và ngờ rằng ông trời ấy kém cỏi hơn, thì đó là một ý nghĩ phạm thượng. Mọi điều tốt đẹp đến với gia đình họ đều là nhờ bàn tay của ông, họ sẽ nói như vậy. Không những thế, ông trời cũng rất dễ chiều: chỉ cần một bàn thờ nhỏ ngoài sân và những lời khấn bằng ngôn ngữ hằng ngày là đủ.
Điều lạ là ngay trong khu phố ấy lại có một ngôi chùa lớn. Chùa khá yên tĩnh, ngoại trừ ngày rằm và ngày cuối tháng âm lịch, khi Phật tử từ khắp nơi trong thành phố kéo về qua cổng lớn. Các nhà sư thường bắt đầu mỗi ngày rất sớm. Khoảng bảy giờ, vài thầy bắt đầu ra đi khất thực. Trông ai cũng khỏe mạnh, nên việc ấy hẳn chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, nhưng những chiếc áo cà-sa màu vàng cam làm buổi sáng rực rỡ thêm nên người qua đường luôn dành cho đoàn người ánh mắt thiện cảm hay một nụ cười tán thưởng. Đến khoảng trưa thì các thầy trở về. Lúc đó, ngoài những đứa trẻ còn quá nhỏ để đến trường hoặc đã quá lớn để bám mẹ, chẳng ai để ý đến họ. Đám trẻ không người trông nom ấy đôi khi cười khúc khích và buông vài lời ngốc nghếch.
Ly Ly thuộc vào lứa tuổi đó. Bé có để ý đến các thầy, nhưng chưa bao giờ thật sự nhìn thấy họ cho đến khi cha bé quyết định việc giáo dục bé nên bắt đầu sớm hơn một chút. Vì một lý do kỳ lạ nào đó, các thầy tin rằng mình có thể làm thầy giáo thật. Họ mở một lớp mẫu giáo miễn phí, nhận trẻ con trong khu phố và hăng hái chuẩn bị cho chúng bước vào chương trình học vấn cao cấp của lớp một.
Trường học chẳng gây được chút ấn tượng nào với Ly Ly. Phòng học cũng bình thường, nhà sư dạy học cũng bình thường, các bạn cùng lớp cũng bình thường. Mọi thứ đều tầm thường đến nỗi khi về nhà, bé quên khuấy mất rằng đời mình vừa đổi khác, rằng từ nay mình là học sinh với những mục tiêu và trách nhiệm lớn lao. Sự hồi hộp và háo hức của ngày đầu tiên tan biến rất nhanh; bé biết điều đang chờ phía trước chỉ là một thứ gần như chẳng có gì. Dẫu vậy, sáng hôm sau, sau lời khuyến dụ của mẹ, bé vẫn thức dậy đi học.
Ai ngờ trẻ con có thể lười đến thế! Học thuộc năm chữ cái đầu tiên A, B, C, D, E có gì khó khăn đâu mà Ly Ly cùng các bạn chỉ nhớ được một nửa đầu. Điều này làm nhà sư-thầy giáo sững sờ. A, tính nết phải được uốn nắn từ thuở ban sơ. Điều lũ trẻ cần nhất lúc này chính là kỷ luật, thầy kết luận.
Nhưng thầy không thể đánh đòn chúng. Mà thầy cũng chẳng muốn chút nào. Đánh đòn đã quá phổ biến; có những bậc cha mẹ nài nỉ giáo viên: "Xin cứ đánh phạt nó giùm chúng tôi" nếu họ nghĩ con mình đáng bị đòn. Thầy cần nghĩ ra một cách gì khác, không dùng roi vọt mà vẫn đủ hiệu nghiệm.
Quyết định đang hình thành và thầy cần tập trung tâm trí nhưng lũ trẻ, chẳng hay biết ý tưởng mới vừa lóe lên trong đầu thầy giáo của mình, lại bắt đầu nói chuyện xôn xao.
"Được rồi!" Thầy đập mạnh cây thước gỗ xuống bàn. "Tất cả đứng dậy. Chúng ta ra nhà thủy tạ."
Bọn trẻ rụt rè nhìn thầy. Nhà thủy tạ là nơi trẻ con không được bén mảng tới, nên chuyến đi này lẽ ra phải rất thú vị. Thế nhưng trong giọng nói của thầy, chúng chẳng nghe thấy chút vui tươi, hiền hòa nào cả. Gương mặt thầy cũng hiện lên một vẻ lạ thường, và bản năng cho chúng biết đó là điềm gỡ, mặc dù từ ngữ này chưa có trong ngữ vựng của trẻ con. Dù sao, cả bọn cũng tụm lại quanh thầy, rồi xếp hàng một đi đến nơi mà sau này không đứa nào quên được.
Nhà thủy tạ thật ra cũng chẳng có gì đặc biệt, giống như mọi thứ khác mà Ly Ly được phép đến gần trong chùa. Đó chỉ là một căn nhà đơn sơ giữa hồ nước nhỏ, cửa thường khoá kín, được dùng làm nơi tĩnh dưỡng. Bọn trẻ được lệnh đứng trước căn nhà cấm, quay mặt về phía thầy.
Thầy nhìn từng đứa với ánh mắt đầy ý nghĩa. Đã đến lúc chín, mười đứa trẻ vô kỷ luật này phải học hậu quả của sự vô trách nhiệm, trước khi quá muộn.
"Hôm qua trước khi tan học, thầy dặn gì? Học thuộc năm chữ cái vừa học. Thế các con đã làm gì? Về nhà chỉ biết chơi, chơi mãi. Như vậy là hư. Hư lắm." Thầy hỏi chậm rãi.
Bọn trẻ cúi đầu, không phải vì thấy xấu hổ mà vì chẳng biết phải nói gì. Đáng lẽ chúng phải lí nhí xin lỗi — người ta hoàn toàn có thể xin lỗi dù chẳng thật lòng — nhưng chúng nào biết điều đó. Thế là thầy phải tiếp tục, giọng đầy thất vọng.
"Các con cần được kỷ luật. Nhưng không, thầy sẽ không đánh các con."
Thầy chỉ tay vào nhà thủy tạ.
"Thầy sẽ đốt. Giờ thì tất cả vào trong đó. Thầy sẽ châm lửa đốt căn nhà này, và các con sẽ bị thiêu chết."
Dĩ nhiên chẳng đứa nào bước về phía cánh cửa. Vả lại cửa đang khóa, nên dù có muốn chúng cũng chẳng thể làm theo cái mệnh lệnh chết người. Cả bọn chỉ biết co cụm lại, run rẩy, khóc lóc và van xin, trong khi gương mặt nhà sư càng lúc càng nghiêm nghị.
"Dạ đừng đốt tụi con... Đừng, thầy... Đừng..."
Tiếng khóc của bọn trẻ không thu hút sự chú ý của ai cả vì quanh đó chẳng có ai. Điều đó lại đúng ý vị sư. Vẫn giữ vẻ mặt nghiêm nghị, thầy khẽ hừ một tiếng rồi uy nghi giơ một cánh tay lên. Lập tức, lũ trẻ nín bặt. Chúng chỉ còn thút thít và sụt sịt.
"Im ngay. Thầy mà còn nghe đứa nào phát ra tiếng nữa..."
Lời đe dọa bỏ ngang có đầy đủ tác dụng. Khó khăn lắm nhưng bọn trẻ cố giữ im lặng, chỉ để nỗi sợ hãi nói qua ánh mắt và thân thể của mình. Hài lòng với sự ngoan ngoãn ấy, thầy cho chúng một tia hy vọng.
"Tốt. Nếu từ nay thầy có thể tin rằng các con sẽ làm đúng lời thầy dạy thì chắc thầy không cần đốt các con nữa."
Đáng lẽ cả bọn nên đồng thanh hứa sẽ chăm học suốt đời, nhưng chúng chưa được ai dạy rằng đôi khi phải biết chủ động! Không đứa nào dám mở miệng vì vẫn còn phải tuân lệnh im lặng, nên thầy đành nói rõ hơn.
"Bây giờ các con biết rồi đó. Không chịu học thì sẽ bị đốt. Không thuộc bảng chữ cái, sẽ bị đốt. Không làm bài tập, sẽ bị đốt. Hiểu chưa?"
"Dạ... hi..ểu.."
"Từ nay có nghe lời thầy không?"
"Dạ... nghe."
Nếu bạn nghĩ bọn trẻ sẽ nhảy cẫng lên khi biết lần này mình được tha chết thì bạn sẽ thất vọng. Chúng không cười, cũng chẳng có lấy một tiếng thở phào. Chúng chỉ lặng lẽ theo thầy trở về lớp học, ra về khi đến giờ, mặt mày ủ rũ như những con chó vừa bị thiến xong.
Ly Ly không khóc nhiều trong cơn thử thách ấy, nhưng lại là đứa nhát nhất. Hôm sau bé không đi học. Rồi những tuần sau. Rồi những tháng sau. Đến mùa thu năm ấy, bé nhất quyết không chịu vào lớp một. Cha bé bận rộn, chỉ nói vài câu rồi mặc kệ. Nhưng cô Mi Mi thì nổi giận. Cô ghé tai Ly Ly thì thầm:
"Để đó, cô sẽ trị ông thầy này."
Đó là bí mật của hai cô cháu, vì nếu cha Ly Ly biết Mi Mi định làm gì thì hẳn ông sẽ nổi trận lôi đình.
Kế hoạch thật ra rất đơn giản.
Giống như bao cô gái trẻ đẹp khác, Mi Mi nhận biết là đàn ông thường trở nên khác lạ mỗi khi cô liếc nhìn họ. Chữ liếc rất quan trọng ở đây. Nhìn thẳng thì chẳng có tác dụng đó; cô tin chắc như vậy. Thế thì những cái liếc mắt sẽ được tận dụng tối đa để buộc vị sư phải đối diện với những yếu đuối của chính mình.
Rồi sau đó thì sao? Điều đó cô chưa nghĩ tới. Cô cũng chẳng cần biết thầy sẽ tiếp tục dạy học hay không. Điều quan trọng là phải đối đầu thầy.
Người lớn trong khu phố có một quan niệm rất lạ. Thấy nhiều Phật tử đi xe hơi bóng loáng đến chùa, họ kết luận là người theo đạo Phật đều giàu có, nhưng chẳng ai nghĩ đến chuyện chính mình cũng theo đạo để kiểm chứng giả thuyết ấy. Dù vậy, họ khuyến khích con cái, nhất là những cậu trai cô gái tuổi thiếu niên, tham gia đoàn thanh thiếu niên của chùa. Ở đó con mình sẽ làm bạn với những đứa trẻ ngoan và tham gia công tác xã hội, họ nghĩ vậy. Cũng rất khó hiểu là tại sao họ không áp dụng lập luận đó cho chính mình, để cũng được sống giữa những người tốt luôn.
Vì mục đích chính của đoàn thanh thiếu niên là học giáo lý Phật, nên sáng Chủ nhật nào cũng có lớp học. Đó là nơi Mi Mi chọn để thực hiện kế hoạch của mình. Chẳng có chỗ nào khác thích hợp hơn.
Ngày quan trọng đến. Ngồi ở một hàng ghế không quá xa phía trước, Mi Mi trong tư thế tuyệt đối sẵn sàng. Hai má hồng lên nhờ một chút phấn rất kín đáo, đôi môi căng mọng, mái tóc được chải chuốt cẩn thận, quần áo ủi phẳng phiu, cô đúng là một nụ hoa nở rộ. Giờ thì, nếu một người đàn ông còn có mắt, anh ta thể nào cũng phải nhìn cô lấy một lần, hoặc nhìn thẳng, hoặc kiếm cớ mà nhìn.
Tiếc thay, kế hoạch đành phải hoãn lại vì một trở ngại kỹ thuật ngoài ý muốn. Lớp học do nhiều nhà sư thay phiên nhau giảng dạy, và tuần ấy mục tiêu của cô lại không có mặt.
Không nản chí, Chủ nhật kế tiếp Mi Mi lại bỏ ra chừng đó thời gian và công sức để làm đẹp cho bản thân đã đẹp sẵn của mình. Thế nhưng tình hình vẫn không hề tiến triển.
Vậy là xong! Mi Mi vốn chẳng phải người kiên tâm. Công trình chải chuốt tỉ mỉ bị cắt bỏ, kịch bản cũng bị rút ngắn một cách hiểm nguy. Khi cuối cùng nhà sư xuất hiện, thay vì liếc ngang như kế hoạch ban đầu, cô trừng mắt nhìn thẳng vào thầy. Rồi không cần quanh co, cô hùng dũng bước tới khi mọi người ra khỏi phòng học.
"Thưa thầy, em có chuyện muốn hỏi. Ly Ly, cháu gái nhỏ của em, học lớp mẫu giáo của thầy lúc trước. Không biết thầy còn nhớ nó không." Cô cố ý nhấn mạnh mấy chữ "cháu gái nhỏ."
"Ly Ly à? Nó bao lớn?" Nhà sư hỏi một cách tự nhiên.
"Nó cao cỡ này, mắt to tròn, tóc dài tới đây." Cô đưa tay làm dấu. ”Nó nhất quyết không chịu đi học vì sợ bị thiêu chết. Thầy làm nó sợ."
"À, mấy đứa nhỏ đó hả?” Nhà sư bật cười. “Nó vẫn còn sợ à? Đừng lo. Rồi nó sẽ quên thôi."
"Sao quên được?! Thầy không nên dọa nó như vậy. Nó chỉ là một đứa bé thôi. Chơi rồi quên học bài cũng đâu phải tận thế! Chính thầy có bao giờ mải làm chuyện này rồi xao lãng chuyện khác chưa? Nếu có một cô gái đẹp liếc nhìn thầy... nếu em nói cho thấy biết bạn em đang mê thầy, thầy có dám chắc mình sẽ không chia trí?"
"Em đang giận. Không nên như vậy. Cũng không nên nói những lời như thế..."
Nhà sư trẻ cố giữ vẻ bình thản. Thầy biết mình không thể bước vào một cuộc đối thoại liên quan đến con gái và sự cám dỗ.
Mi Mi ngừng công kích. Cô đột nhiên cảm thấy ngượng vì cơn giận của mình, Cô cũng bắt đầu nghi ngờ không biết sự so sánh cô đưa ra có lý lẽ hay không. Khi nhà sư trẻ lặng lẽ bước ra khỏi phòng, Mi Mi vẫn đứng đó rất lâu, tức giận chính mình. Đúng là Linh Đa và Tú Anh ái mộ thầy, nhưng "mê" à? Đó là một lời nói dối xấu xa. Gần như là độc địa.
Những tháng sau đó là quãng thời gian khó khăn không ngờ đối với cả hai người, nhất là nhà sư.
Thầy rơi vào một trạng thái vô cùng khó chịu. Cố hết sức đừng nhìn, đừng nghĩ đến ba cô gái trẻ, thế nhưng trong đầu thầy cứ hiện lên hết giả thuyết này đến giả thuyết khác mà chủ đề là các cô. Khả năng phân tích của thầy vì vậy mà sa sút hẳn.
Thầy thấy dường như ba cô cư xử khác lúc trước. Mỗi lần ánh mắt thầy chạm phải họ, Mi Mi lại cúi mặt, Linh Đa mỉm cười, còn Tú Anh thì cắn môi. Có lẽ Mi Mi mới là người mê mình, thầy nghĩ. (Chúng ta biết Mi Mi cúi mặt vì thấy áy náy, nhưng công bằng mà nói thì làm sao thầy biết được? Thầy đâu có cái khả năng đặc biệt của chúng ta là chui vào đầu người khác!)
Tại sao Mi Mi? À, thì người ta vẫn hay nói: "Bạn em có vấn đề này..." trong khi người nói mới là người có vấn đề. Mà cũng có thể là Linh Đa. Cô lúc nào cũng cười với thầy, nhưng dạo này nụ cười của cô có vẽ bâng quơ, khang khác. Còn Tú Anh thì hễ ai nhìn cô quá hai giây là cô cắn môi, nhưng trong ba người, cô là người quý thầy nhất.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Thế nhưng loại tò mò này — mà thật ra là mọi loại tò mò — đều không được Đức Phật khuyến khích. Tệ hơn nữa, càng cố gạt nó ra khỏi đầu, nó lại càng bám riết lấy thầy, đến nỗi việc ngồi thiền và cả những sinh hoạt khác cũng bị ảnh hưởng không ít.
Mi Mi nhận ra sự khổ sở ấy. Bản thân cô cũng chẳng khá hơn.
Một mặt, cô thấy hả lòng vì nhà sư đã phải trả giá cho cách dạy học ác ôn của mình, nhất là khi thầy xem nhẹ việc đó và chẳng hề hối lỗi. Mặt khác, cô cũng thoáng nghĩ biết đâu trong hai người, chính cô mới là người phạm lỗi nặng hơn.
Gia nhập đoàn thanh thiếu niên chỉ vì muốn ở gần bạn bè, cô chẳng học được bao nhiêu giáo lý. Nhưng bấy nhiêu cũng đủ để cô biết rằng lừa dối một vị sư, và có thể khiến ông phải quay trở lại cõi tục, là một tội rất lớn. (Cô quên mất rằng chính mình vẫn đang sống ở cõi ấy mà thấy cũng chẳng đến nỗi nào.)
May thay, rắc rối của họ được giải quyết bởi một biến cố đến từ thiên nhiên.
Một trận hỏa hoạn lớn bùng lên trong khu phố, thiêu rụi mọi thứ trên đường đi của nó. Người dân cuống cuồng xách từng thùng nước dập lửa. Nhưng khi màn đêm buông xuống, tất cả những gì còn lại chỉ là những bức tường gạch cháy đen — thứ này khó nuốt mà ngọn lửa háu ăn thì đang vội.
Ngôi chùa, trái lại, vẫn còn nguyên vẹn. Phép màu chăng? Hay khoảng sân rộng trước chùa đã đổi hướng ngọn lửa? Hoặc chính Đức Phật đã chở che? Điều này tùy suy nghĩ mỗi người.
Còn những bàn ông thiên, trong đó có bàn của cha mẹ Ly Ly? Đều cháy sạch. Nhưng khi cuộc đời bỗng chốc đảo lộn, chẳng ai có thì giờ để nghi ngờ sự sáng suốt của ông trời hay suy gẫm bí ẩn của vũ trụ.
Mọi gia đình trong khu phố đều phải dọn đi. Chính quyền buộc họ di tản và bồi thường bằng những lô đất ở vùng ven thành phố, khi ấy còn đang trong giai đoạn khai phá. Trên nền đất cháy, chẳng bao lâu sau mọc lên một khu chung cư lớn với những dãy nhà vuông vức, ngay ngắn. Vì sự thay đổi diễn ra quá nhanh, người ta đồn rằng vụ cháy đã được cố ý gây ra, nằm trong một kế hoạch phát triển nhà ở của chính quyền.
Thế là nỗi khổ tâm của vị sư chấm dứt, ít ra thì thầy nghĩ vậy.
Xa mặt cách lòng. Sự tò mò giảm dần. Ba cô gái lần lượt rời khỏi tâm trí thầy theo một trình tự rất là hợp lý. Trước hết là dáng hình. Rồi đến khuôn mặt. Sau đó là những nụ cười. Cuối cùng, mọi dấu vết còn sót lại lặng lẽ chìm xuống một góc nào đó của tiềm thức.
Với Mi Mi, mọi chuyện cũng coi như được giải quyết êm xuôi.
Bạn bè mỗi người một ngả. Sẽ chẳng còn ai làm chậm bước nhà sư trên con đường đến Niết-bàn, hay bất cứ nơi nào thầy định đi. Ngày ngày phải đạp xe hơn một giờ mới tới trường rồi hơn một giờ để về nhà, Mi Mi chẳng còn nhiều thì giờ nghĩ đến chuyện cũ. Cuộc sống bận rộn. Và dĩ nhiên, trong cuộc sống ấy có con trai. Ở miền đất lưu đày — chỉ đứng trên cõi chết đúng một bậc — cô nhận được rất nhiều sự chú ý. Mà chúng ta đều biết, kiểu chú ý này rất dễ khiến người ta tin rằng mình gần như hoàn hảo.
*
Năm tháng lặng lẽ trôi qua.
Sau này còn xảy ra biết bao biến cố đau lòng đến nỗi trận hỏa hoạn năm xưa trở thành một thứ kỷ niệm đẹp mỗi khi nhìn lại. Mi Mi thường mỉm cười kể rằng ngày ấy cô đã cõng bé Ly Ly trên lưng, dắt theo hai đứa cháu trai lội qua một con sông cạn, trong khi phía sau, ba mẹ Ly Ly vẫn không ngừng chuyền từng xô nước, dội vào những chiếc lưỡi lửa đang liếm ngôi nhà.
Suy cho cùng, ngọn lửa ấy tuy đáng sợ, nhưng chưa từng đẩy họ ra khỏi quê hương, chưa từng xô họ lên một con thuyền mà ở đó sự sống và cái chết chỉ cách nhau một ly nước hay một cái nhăn mặt của biển cả lạnh lùng. Nó cũng chưa từng đổ đầy cả bốn ngăn trái tim họ bằng nỗi cay đắng khôn nguôi dành cho kẻ chiến thắng của một cuộc chiến mà họ hiểu quá ít và quá muộn.
Một ngày nắng ở Vancouver, quá khứ bỗng quyết định bắt kịp hiện tại.
Hôm ấy Mi Mi không mua đủ nguyên liệu để nấu bún bò Huế nên phải ghé vào một tiệm thực phẩm khác, nơi cô chưa từng đến bao giờ.
Quầy tính tiền xếp hàng khá dài. Người phụ nữ đứng trước Mi Mi hẳn đang rất vui. Cô nói chuyện điện thoại với chồng, nhanh nhảu, rộn ràng. Vừa cúp máy xong, cô lại gọi cho một người khác, giọng vẫn vui vẻ như thế.
Ban đầu Mi Mi tưởng mình khó chịu vì người lạ cứ thao thao nói chuyện riêng tư giữa chỗ đông người. Nhưng rồi cô nhận ra không phải. Đó là giọng nói. Nó quen quen nhưng cô không thể nào nghĩ ra ai.
" Linh Đa... phải Linh Đa không?”
Mi Mi chạm vai người phụ nữ khi cuối cùng kéo được cái tên ra khỏi chiếc rương kỷ niệm của tuổi trẻ nay bụi phủ đầy.
"Trời ơi! Mi Mi! Mi Mi đó hả?”
Người phụ nữ quay phắt lại, nhìn Mi Mi như thể họ là tài tử đóng phim. Niềm vui thì hoàn toàn chân thật. Chỉ có cách biểu lộ là hơi quá.
Hai người ôm chầm lấy nhau rồi lùi ra ngắm nhìn gương mặt bạn sau khi cảm xúc đã lắng xuống. Cả hai đều thay đổi nhiều, ánh mắt họ cùng nói.. Nhưng cũng phải thôi. Phụ nữ hơn bốn mươi, nhìn kỹ thì vẫn là phụ nữ hơn bốn mươi. Không phải họ không còn đẹp. Họ vẫn đẹp. Chỉ có điều tuổi trẻ, một khi đã qua, làm cách gì vẫn không trở lại.
"Đi, về nhà mình. Nhà mình gần đây thôi.”
Linh Đa vừa cười vừa kéo tay Mi Mi đi về phía bãi đậu xe.
Lúc này trông cô giống hệt cô gái Mi Mi biết ngày xưa. Cô gái hay cười, ngay cả khi chẳng có lý do gì để cười, như nhà sư đã từng nhận thấy.
Bên ngoài, căn nhà một tầng trông sáng sủa và còn khá mới. Không có ga-ra, Mi Mi đậu xe phía sau xe Linh Đa, sát lề đường.
Bên trong hơi tối, đồ đạc và vật trang trí bày biện khá nhiều, nhưng tất cả tạo nên một cảm giác ấm cúng của nếp sống gia đình lâu năm.
Vừa bước vào nhà, Linh Đa liền kéo Mi Mi ngồi xuống ghế rồi gọi lớn:
"Anh ơi, xuống đây một chút được không? Em có bất ngờ lớn lắm!”
Quả thật là một bất ngờ rất lớn.
Mi Mi sững người. Cứ như hơn ba mươi năm chưa từng trôi qua, như cô vẫn còn là cô thiếu nữ ngoan ngoãn của Gia đình Phật tử ngày nào. Người đàn ông ngoài năm mươi tuổi vẫn là nhà sư năm xưa. Chỉ già hơn.
Ông cũng ngạc nhiên, nhưng nhanh chóng lấy lại sự bình thản. Có lẽ đây không phải lần đầu tiên ông gặp phản ứng thế này.
"Mi Mi... phải không? Thật không ngờ lại gặp cô ở đây.”
Linh Đa huyên thuyên kể, gần như suốt câu chuyện.
Hai người lấy nhau từ nhiều năm trước, ngay tại quê nhà.
Sau trận hỏa hoạn, khu phố cũ không còn nữa, ngôi chùa cũng suy tàn dần. Các vị sư chuyển về một ngôi chùa khác, xa thành phố hơn. Rồi chế độ mới xuất hiện. Không chỉ khiến ngôi chùa thêm sa sút, nó còn chà đạp niềm tin và cuộc đời của biết bao người khác.
Một số nhà sư trẻ không chịu nổi nên hoàn tục. Nhà sư này vẫn ở lại. Cho đến khi người ngưỡng mộ cũ xuất hiện một ngày.
Linh Đa nháy mắt với Mi Mi rồi cười phá lên khi thấy chồng đỏ mặt.
"Tuần nào mình cũng tới chùa. Cứ nhìn ảnh như thể mình sắp chết vì tương tư!”
Cuối cùng thì nhà sư trẻ chịu thua. Đó là một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Kiếp sau, cô vẫn lấy ông thêm một lần nữa nếu có thể, Linh Đa nói.
"Thôi, đừng nói chuyện của mình nữa.”
Ông cười.
"Gia đình cô sao rồi, Mi Mi? Mọi người đều ở Canada cả chứ?”
"Chắc thầy không biết đâu nhưng em ở với gia đình anh trai vì ba má em mất sớm.”
Mi Mi mỉm cười. Ánh mắt ông cho cô biết ông vẫn nhớ.
"Ly Ly, và hai đứa cháu trai của em đều ở đây cả. Chúng có đời sống tương đối khá. Ly Ly có việc làm tốt, nó có trách nhiệm lắm. Đôi khi... hơi quá nữa.”
"Còn bà? Bà làm gì, Mi Mi?” Linh Đa hỏi.
"Có lẽ bà không tin đâu, nhưng mình là nhân viên công tác xã hội. Mình kiên nhẫn hơn ngày xưa nhiều. Không còn giống... con bạn nóng tính của bà nữa đâu.”
Mi Mi cười, không nhìn sang chồng bạn khi nói câu cuối.
Linh Đa mang cà phê đặc biệt, bánh ngọt ra mời. Và nhất quyết gói thêm một miếng cùng vài cái bánh bao chay cho bạn mang về.
"Cứ ngồi ăn hết bánh ngọt đi. Bánh bao chay mình làm ngon lắm. Bảo đảm luôn!”
"Thầy... vẫn ăn chay à?”
"Ừ, vẫn vậy.” Linh Đa gật đầu.
Khi cô vừa khuất vào bếp, chồng cô khẽ mỉm cười.
"Làm sư... không phải dễ.”
Mi Mi cũng mỉm cười.
"Làm người... cũng không phải dễ.”
Cô chợt nghĩ đến việc hỏi ông xem những lời công kích năm xưa có góp phần khiến ông hoàn tục hay không, nhưng rồi lại thôi.
Đức Phật của ông đã mất bao lâu mới đạt được giác ngộ?
Có lẽ nhìn lại con đường đi qua, ông cảm thấy một chút bùi ngùi và khiêm nhường. Nhưng họ đang ngồi đây, nhắc lại chuyện cũ, mỉm cười.
KC Nguyễn