Thiện ác đáo đầu chung hữu quả, không phải là không có, mà chưa đến lúc quả phải có. Như chính gia đình Thầy, Thầy có dám nói không nhờ Phước đức Tiên không (?) xét mấy người được thành tài như Thầy với hai bàn tay trắng ở xứ người?
Hồi nhỏ, thỉnh thoảng tôi nghe ba tôi nói với một người mà tôi gọi là Cô: “Mày làm gì thì cũng phải nghĩ tới việc để lại phước đức cho con cháu.”
Lời nhắc nhở đó, lúc bấy giờ tôi chỉ nghe thoáng qua, chưa thấm thía, và cũng chẳng hiểu. Những khái niệm như ‘phước đức’ có vẻ xa vời. Lại còn ‘quả báo’ nữa, nghe sao khó hiểu.
Nhưng càng lớn, tôi càng nhận ra đó là một lời cảnh tỉnh quan trọng, xuất phát từ tấm lòng thương người và lo xa mang tính truyền thống đạo lí xã hội.
Vào những năm 1960–1970, chiến tranh loạn lạc, ba má tôi đã cưu mang nhiều gia đình tản cư chạy về làng. Trong số đó, có một gia đình mà sau này trở nên thân thiết như người nhà: gia đình Cô Dượng. Ba má tôi dành hẳn một mảnh đất cho họ xây nhà tạm trú, và họ đã ở đó suốt 12 năm dài.
Dượng là người hiền lành, ít nói, nhưng Cô thì hoàn toàn khác. Gia đình họ vốn khá giả, dư dả tiền bạc, và họ dùng số tiền ấy để cho vay nặng lời. Những người vay không trả đúng hạn trở thành nạn nhân của những cách đòi nợ rất khắc nghiệt. Tôi chỉ nghe loáng thoáng, rồi sau này mới xác nhận rõ: Cô từng lấy bàn ghế, dàn máy may, và đặc biệt là lấy cả bàn thờ của người ta để trừ nợ.
Việc lấy bàn thờ xảy ra nhiều lần, và làm cho Cô trở nên nổi tiếng … ác. Nhiều người cay đắng, uất ức đến tận xương tủy. Ngay cả hôm nay, nhắc tới Cô là người ta nhắc tới cái bàn thờ!
Ba tôi là người duy nhứt mà Cô còn nể trọng. Ba tôi thường nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc cảnh cáo Cô: “Đừng làm những việc thất đức. Mày làm gì thì cũng phải nghĩ tới việc để lại phước đức cho con cháu.”
Cô im lặng, không phản đối, cũng chẳng hứa hẹn gì.
Sau năm 1975, Cô Dượng trở về quê cũ làm ăn. Cô tiếp tục cho vay nặng lời, và dần trở nên giàu có hơn trước. Cuộc sống bề ngoài của họ ngày càng sung túc. Cô Dượng qua đời đã hơn 20 năm.
Sáng nay trên bàn cà phê, tôi tình cờ gặp người quen cũ và hỏi thăm về mấy đứa con của Cô Dượng, những người mà ngày xưa tôi coi như em út. Câu trả lời khiến tôi sững sờ, gần như không tin vào tai mình.
Trong năm đứa con, bốn đứa mắc bệnh tâm thần ở mức độ khác nhau. Một đứa bỏ đi biệt xứ, không ai biết sống chết ra sao. Một đứa suốt ngày nói nhảm, không ai hiểu nổi. Một đứa bệnh nặng đến mức phải xiềng xích, nhốt lại để không chạy ra ngoài phá phách. Một đứa nhẹ hơn, nhưng vẫn không thể sống bình thường như người khác. Chỉ còn lại một đứa không bị bệnh, nhưng cuộc sống rất khó khăn, cơ cực.
Nghe những mẩu chuyện rời rạc về những người từng là em út trong nhà mình, lòng tôi nặng trĩu. Không phải vui vì “quả báo”, mà là một nỗi xót xa lẫn kinh nghiệm sâu sắc. Tôi chợt hiểu rõ hơn lời ba tôi từng nói năm nào.
Luật nhân quả không phải chuyện huyền hoặc xa xôi; nó hiện hữu, rõ ràng, đôi khi ngay trước mắt chúng ta, trong chính thế hệ mình. Những hành động thiếu từ bi, những cách làm tổn thương lòng tự trọng và niềm tin thiêng liêng của người khác – dù mang lại giàu sang tạm bợ – cuối cùng vẫn để lại dấu vết đau thương, không chỉ cho chính người gây ra, mà còn lan sang con cháu.
Tiền bạc, danh vọng, nhà cửa có thể kiếm được bằng nhiều cách, nhưng phước đức thì chỉ gieo bằng tâm lành và hành thiện chân chánh. Một khi đã gieo nhân ác, dù cố tình hay vô tình, quả báo thường đến theo cách mà không ai mong muốn và thấy trước.
Sự giàu có có thể để lại cho con cháu bằng tiền bạc, nhưng chỉ có phước đức mới để lại cho chúng được bình an.
FB Nguyễn Tuấn